Hóa chất phèn nhôm và chất keo tụ

Công ty Ngọc Lân chuyên cung cấp hóa chất phèn nhôm cho các doanh nghiệp trong cả nước.

Phèn nhôm và những chất keo tụ

Ở những khu dân cư tập trung trong các đô thị, thành phố, nước sinh hoạt được cung cấp từ các nhà máy cấp nước khu vực mà giá cả của nó chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi giá cả và số lượng tiêu dùng của hóa chất keo tụ và những hóa chất khác. Việc lựa chọn loại hóa chất nào rẻ, liều lượng sử dụng ít, cho chất lượng nước sạch là mục tiêu thường xuyên của các nhà máy cấp nước.

Từ trước tới nay , ở nước ta chất keo tụ được sử dụng để lắng trong nước sinh hoạt là nhôm sunfat (thường gọi là phèn đơn) hoặc nhôm kali, nhôm  amon sunfat (thường gọi chung là phèn kép) hoặc dung dịch phèn nước (thông thường là dung dịch (phèn nhôm sắt). Nhằm phòng chống một số bệnh tật, bệnh dịch người ta còn sử dụng một số hóa chất khác như clo (clo lỏng, nước javen, bột tẩy) có tác dụng diệt khuẩn; vôi để hiệu chỉnh độ pH; natri silicofluorua chống bệnh sâu răng; polyacrylat để hoàn thiện quá trình lắng trong nước…

Nhu cầu nước sinh hoạt sẽ tăng vọt lên trong những năm tới đòi hỏi phải tăng cường sản xuất và cung cấp những hóa chất xử lý nước cũng như ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất các hóa chất có hiệu quả xử lý nước tốt hơn các loại phèn đơn, phèn kép truyền thống đã sử dụng hàng trăm năm nay.

Phèn nhôm gồm hai loại:

1. PN đơn: Al2.(SO­4)3.18H2O.

2. PN kép: muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni. Vd. a) Kali nhôm sunfat hay PN kali (thường gọi: phèn chua) [KAl(SO4)2.12H2O hay K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]: Tinh thể lớn hình bát diện, trong suốt, không màu,vị chát, cảm giác se lưỡi; khối lượng riêng 1,75 g/cm3; tnc= 92oC; đun nóng đến 200oC thì mất nước kết tinh, thành phèn khan ở dạng bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) ít tan trong nước. Dung dịch phèn chua có tính axit, không độc. Tinh thể phèn tan trong nước tạo màng hiđroxit lắng xuống kéo theo các chất bẩn lơ lửng trong nước, vì vậy, dùng để làm trong nước; làm chất cầm màu trong nhuộm vải; chất kết dính trong công nghiệp sản xuất giấy; thuốc thử trong các phòng thí nghiệm. Trong y học, dùng làm thuốc cầm máu bề mặt, lau rửa bộ phận cơ thể ra nhiều mồ hôi, rửa niêm mạc miệng, họng; làm thuốc rắc kẽ chân. Theo y học cổ truyền, còn gọi phèn chua là bạch phèn. Bạch phèn có tính hàn, vào kinh tì, giải độc, sát khuẩn, cầm máu, chữa viêm dạ dày, ruột; dùng thêm các vị thuốc khác chữa đau răng. Phèn phi trộn với bột lưu huỳnh tán nhỏ và tá dược dùng bôi nách sau mỗi lần tắm để chữa chứng hôi nách.

b) Amoni nhôm sunfat hay PN amoni [(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)]: tinh thể không màu, khối lượng riêng 1,65 g/cm3, tnc = 94,5oC. Dễ tan trong nước. Cũng dùng làm trong nước; là một thành phần của bột nở, bột chữa cháy; dùng trong mạ điện; trong y học, dùng làm thuốc lợi tiểu, gây nôn.

Khi sử dụng phèn nhôm phải đúng liều lượng nếu không sẽ không có tác dụng nữa và sử dụng thêm một số chất keo tụ và trợ lắng để nhằm nâng cao hiệu quả hơn. Cám ơn quý khách đã tìm đến công ty chúng tôi.

Chúc các bạn làm việc vui vẻ và hiệu quả!

Hoài Thy

Leave a Reply